Tiểu sử của Ngài Nguyễn Phúc Nguyên

Ngài

Nguyễn Phúc Nguyên
Chúa Sãi

Đức Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế

 


Ngài sanh năm 1563, mất năm 1635. Ngài đã đổi họ Nguyễn Văn thành Nguyễn Phước.

Lăng Trương Điển, tức lăng của Đức Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế, táng tại làng Hải Cát, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. lăng của Đức Bà (Vỉnh Diẻn) hiện ở làng Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Ngài và Bà đều được thờ tại Thái Miếu, Án Tả Nhứt.

Trong các vị Hoàng Tử con Đức Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế, Hoàng Tử Anh và Hoàng Tử Trung, vì can quốc sự nên bị tước tịch.

Hệ Ba hiện có hai phòng, nam được 340 người (năm 1943). Mỗi phòng có nhà thờ riêng, nhà thờ ngài Khánh Quận Công ở làng Dương Nổ, nhà thờ ngài Vinh Quận Công ở làng Ngọc Anh, cả hai nhà thờ đều thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

(Trích Hoàng Tộc Lược Biên)

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu Chúa Nguyễn Hoàng, được nối ngôi Chúa vì từ Công Tử trưởng đến Công Tử thứ tư đều mất sớm, Công Tử thứ năm lại làm con tin ở Bắc Hà.

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên trong họ Nguyễn mang họ Nguyễn Phúc (hay Nguyễn Phước) (10) . Dưới thời Chúa Nguyễn Hoàng, Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên đã lập công lớn đánh thắng thuyền ngoại quốc ở cửa Việt năm 1597. Khi lên kế nghiệp, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã biết dùng người tài như Ngài Đào Duy Từ để chăm lo phòng thủ ở phía Bắc, xây thành đắp luỹ (luỹ Trường Dục năm 1630, thành Đồng Hới còn gọi là luỹ Thầy năm 1631) đặt quan ải, quân dân, nên dân chúng mến phục, gọi Ngài là Sãi Vương hay Chuá Sãi.

Từ khi Trịnh Tùng ở Đàng Ngoài đã nắm trọn quyền hành với tước vị Bình An Vương, Vua Lê chỉ còn là hư vị, thì Chúa Nguyễn Phúc Nguyên biểu thị ngay thái độ độc lập với vương quyền Bắc Hà và cương quyết đối kháng với họ Trịnh. Chúa tổ chức lại bộ máy chính quyền tự chủ, đặt dinh, trần, phủ, huyện, xã và dời phủ Chúa sang làng Phước Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (1625 - 1636) (11) .

Về cuộc Nam Tiến, Ngài đã dùng chính sách hoà bình, thân thiện với Chiêm Thành và Cao Miên. Năm 1620, Chúa gả Công Nữ Ngọc Vạn cho Vua Cao Miên là Chư Chetta II (1618 - 1686) nên dân chúng vào làm ăn sinh sống ở vùng đất Thuỷ Chân Lạp của Cao Miên được thuận lợi. Năm 1631, Chúa lại gả Công Nữ Ngọc Khoa cho Vua Chiêm Pô Romê, nhờ đó mà có sự hoà hiếu Chiêm - Việt. (12)

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập ra Hệ Ba Tiền Biên, có 11 Công Tử và 4 Công Nữ.

(Trích Nguyễn Phước Tộc thế phả)

ĐỨC HY TÔN HIẾU VĂN HOÀNG ĐẾ

CHÚA THƯỢNG

HÚY NGUYỄN  PHÚC NGUYÊN
(1563 - 1635)
Hệ III

- THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế  húy là Nguyễn Phúc Nguyên, con thứ sáu của đức Triệu Tổ Nguyễn Hoàng và Hoàng Hậu họ Nguyễn. Ngài sinh ngày 28 tháng 7 năm Quí hợi (16-8-1563).

Tương truyền rằng khi Hoàng Hậu có thai. chiêm bao thấy thần nhân cho tờ giấy viết đầy cả chữ "Phúc". Nhiều người đề nghị lấy chữ "Phúc" đặt tên con thì Bà cho rằng: Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng phúc. Bà bèn đặt tên con là Nguyễn Phúc Nguyên, nhánh họ Nguyễn chúng ta đổi thành Nguyễn Phúc bắt đầu từ đấy.(1)

Năm 22 tuổi (1585), lúc đang còn làm Thế tử, ngài đánh tan hai thuyền giặc biển vào đánh phá ở Cửa Việt, đức Thái Tổ cà mừng nói rằng: "Con ta thực là anh kiệt".

Năm Nhâm Dần (1602), ngài được cử đến trấn thủ dinh Quảng Nam.

Tháng 6 năm Quí Sửu (1613) đức Thái Tổ băng, các quan vâng di chiếu tôn ngài làm Thống lãnh Thủy bộ Chư Dinh kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái bảo Thụy Quân công. Bấy giờ ngài đã 51 tuổi. Vua Lê Kính Tông sắc phong ngài làm trấn thủ hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam gia hàm Thái bảo, tước Quận Công.

Sau khi lên ngôi, ngài sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu đâu cũng tin phục, thời bấy giờ người ta thường gọi ngài là Chúa Sãi.

Trong các năm Giáp Dần (1614) và Ất mão (1615) ngài tổ chức lại việc cai trị, đặt tam ti và các chức lệnh sử để trông coi mọi việc, định qui chế các chức vụ ở phủ huyện, phân chia ruộng đất ở thôn xã v.v...

Năm Canh Thân (1620) hai em của ngài là các Chưởng cơ Hiệp và Trạch thông đồng với họ Trịnh, chiếm kho Ải Tử đấp lũy Cồn Cát để làm phản. Ngài sai người đến dụ dỗ nhưng hai ông không chịu nghe. Khi hai ông Hiệp và Trạch bị Nguyễn Phúc Tuyên bắt được, ngài trông thấy chảy nước mắt nói: "Sao hai em nở trái bỏ luân thường?" Hai ông cúi đầu chịu tội. Ngài muốn tha nhưng triều thần không chịu bèn sai giam vào ngục.

Ngài thấy quân Trịnh vô cớ khởi binh nên từ đấy không chịu nộp thuế cống nữa.

Năm Tân dậu (1621) quân Man thuộc Ai Lao cướp bóc ở biên thùy, ngài sai quân đánh bắt, nhưng lấy đức cảm  hóa tha cho về nên chúng cảm phục, từ đấy không quấy nhiễu nữa.

Để tỏ tình thân thiện cới lân bang, năm Canh Thân (1620) ngài gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II. Năm Quí Hợi (1623) một phái  bộ miền Nam đi sứ quan Chân Lạp xin với vua Chey-Chetta II nhường lại một dinh điền ở Mô Xoài gần Bà Rịa ngày nay, vua Chân Lạp phải bằng lòng. Ngoài ra, vua còn cho người Việt đến canh tác tại vùng đó.

Năm Bính Dần (1626) Dinh được dời đến làng Phước Yên (Quảng Điền, Thừa Thiên).

Không những có tài trị nước, ngài còn là người khiêm cung, biết giữ lễ. Như khi nghe Trịnh Tùng chết, các con tranh giành ngôi thứ, ngài báo các tướng: "Ta muốn nhân cơ hội này nổi nghĩa binh để phò Lê, nhưng đánh lúc người có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất vũ. Huống chi ta với Trịnh có nghĩa thông gia." Vì vậy hào kiệt các nơi theo về với ngài rất đông: Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Kiều, Nguyễn Đình Hùng, Nguyễn Hữu Tấn... đều là những danh tướng văn võ toàn tài.

Năm Đinh Mão (1627) Trịnh Tráng đem quân vào đánh, bị thua, phải rút về.(2)

Đến năm Kỷ Tỵ (1629), Trịnh Tráng lại muốn xâm lược miền Nam bèn sai sứ vào sắc phong để có cớ tiến quân. Đào Duy Từ khuyên rằng: "Đây là họ Trịnh mượn sắc lệnh vua Lê để nhử ta...Chi bằng hảy tạm nhận cho họ không ngờ để ta lo việc phòng thủ rồi sau dùng kế trả lại sắc, bấy giờ họ không làm gì ta được nữa."

Sau đó, Đào Duy Từ hiến kế đắp các lũy Trường Dục, lũy Động Hải và lũy Trường Sa tạo thành một thế vững chắc cho xứ Đàng Trong. (3)

Năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ dân kế kế làm mâm hai đáy trả lại sắc cho chúa Trịnh rồi khuyên ngài đánh lấy đất Nam Bố Chính (huyện Bố Trạch ngày nay) để lấy sông Gianh làm biên giới thiên nhiên cho vững cõi Nam.

Năm Tân Mùi (1631) ngài gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Chiêm là Pôrômê, nhờ đó có sự hòa hiếu giữa hai nước Chiêm, Việt.

Năm Quí Dậu (1633) Trịnh Tráng rước vua Lê đem quân vào đánh nhưng bị thua phải rút về.

Năm Ất Hợi (1635) ngày 10 tháng 10 (19-11-1635) ngài không khỏe, triệu Thế Tử Nhân Lộc Hầu và Nguyễn Phúc Khê vào chầu, gởi gắm Thế Tử cho ông Khê rồi băng. Ngài ở ngôi 22 năm, thọ 73 tuổi.(4)

Đức Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế là vị chúa Nguyễn thứ hai trị vì ở miền Nam.

Ngài là vị chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn với một ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập tự chủ. Ngài chình đốn việc cai trị, củng cố về mặt quốc phòng, biết dùng người tài giỏi để chăm lo việc nước nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Nhiều lần quân Trịnh vào đánh đều ôm hận rút về.

Ngài thuộc đời thứ ba của họ Nguyễn Phúc và cũng là vị Chúa đầu tiên mang họ Nguyễn Phúc. Ngài khai sáng ra hệ III hiện nay có 2 phòng:

1. Phòng một tức là phòng Khánh Quận Công.

2. Phòng mười tức là phòng Vinh Quận Công.

- LĂNG, MIẾU THỜ VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN

Lúc đầu, lăng ngài táng tại huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), sau cải táng về vùng núi thuộc làng Hải Cát huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên). Tên lăng là Trường Diễn. Ngài được thờ ở Thái Miếu, án thứ nhất bên tả.

Thế tử lên ngôi dân thụy hiệu là "Đại Đô Thống Trấn Nam Phương Tổng Quốc Chính Dực Thiện Tuy  Du Thụy Dương Vương".

Đời Vũ Vương truy tôn: "Tuyên Tổ Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Vương".

Năm Bính dần (1806), vua Gia Long truy tôn:

Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng Đế.

      .

Miếu hiệu là Hy Tông.

Hệ Ba có 2 phòng: - Phòng Ngài Khánh Quận Công, đền thờ ở làng Dương Nổ. - Phòng Ngài Vinh Quận Công, đền thờ ở làng Ngọc Anh. Cả 2 đền thờ đều thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

GIA ĐÌNH

Hậu và Phi:

Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Hậu   NGUYỄN THỊ GIAI

Bà húy là Nguyễn Thị Giai, sinh năm Mậu dần (1578). Bà là trưởng nữ của Khiêm Vương Mạc Kính Điển, người làng Nghi Dương (tỉnh Hải Dương). Khi thân sinh bà bị tử trận, bà theo chú (Mạc Cảnh Huống) và gia quyến vào Nam ần cư ở chùa Lam Sơn tỉnh Quảng Trị. Phu nhân ông Huống là dì của đức Hy Tông vì thế bà được tiến vào hầu ở nơi tiềm để (chỗ ở của Thế tử khi chưa lên ngôi).

Bà tính nết hiền thục, cử chỉ đoan trang, thanh nhã. Lời nói, hành động đều đúng khuôn phép nên đức Hy Tông rất thương yêu và cho đổi thành họ Nguyễn.

Bà mất ngày mồng 9 tháng 11 năm Canh ngọ (12-12-1630), thọ 53 tuổi, được truy tặng là Doanh Cơ, thụy là Nhã Tiết. Đời Vũ Vương bà được truy tôn: "Huy Cung Từ Thận Thuận Phi".

Năm Bính dần (1806) vua Gia Long truy tôn: "Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu". Lăng táng tại núi Chiêm Sơn huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Tên lăng là Vĩnh Diễn. Bà dược phối thờ với Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế tại Thái Miếu.

Anh chị em:

NGUYỄN HÀ

Thái Bảo Hòa Quận Công.

Ông là con trưởng của đức Thái Tổ, ngày tháng năm sinh không rõ. Mẹ là Đoan Quốc Thái Phu Nhân. (5)

Năm Mậu Ngọ (1538) ông đem gia quyến vào Thuận Hóa.  Nhờ lập nhiều chiến công, ông làm quan đến chức Tả Đô Đốc Hòa Quận Công.

Ông mất ngày 21 tháng 3 năm Bính Tý (19 - 4 - 1576) được truy tặng là Thái Bảo Hòa Quận Công. Lăng tại làng Bích La (Đăng Xương, Quảng Trị).Nhà thờ ở làng Dương Xuân Hạ (Hương Thủy, Thừa Thiên).

Ông cố người con trai là: Ông Lộc, ông Vệ, ông Hoằng, ông Tuyên, ông Đồng và ông Nghĩa. Trong đó ông Lộc và ông Vệ có tài làm tướng, hay chinh phạt, lập được nhiều chiến công.

NGUYỄN HÁN  

Tả Đô Đốc Lỵ Quận Công

Ông là con thứ nhì của đức Thái Tổ. Ông tính dũng cảm và thiện chiến, Nhờ quân công mà thăng đến Tả Đô Đốc Lỵ Quận Công.

Năm Quý Tỵ (1593) khi đức Thái Tổ ra Đông Đô giúp vua Lê đánh dẹp quân nhà Mạc, ông dẫn binh theo chinh phạt. Đến bãi Lâm Tiên, giao chiến với tướng Mạc là Mạc Kính Cung, ông bị tử trận. Ông mất ngày 25 tháng 9 năm Quý Tỵ (19 - 10 - 1593).

Vua Lê rất thương tiếc, truy tặng tước Lỵ Nhân Công và cho đưa về an táng ở Thanh Hóa.

Ông có 2 người con trai là ông Hắc và ông Vịnh. Ông Hắc làm quan với nhà Lê đến chức Thái Phó.

Con cháu ông về sau đông đúc, nhập tịch Thánh Hóa lập thành một Hệ được vua Gia Long ban là Công tánh Nguyễn Hựu.

NGUYỄN THÀNH   (6)

Ông là con thứ ba của đức Thế Tổ.

Ông mất năm 17 tuổi, không người nối dõi.

NGUYỄN DIỄN      

Thái Phó Hào Quận Công

Ông là con thứ tư của đức Thái Tổ (còn có tên là Cải). Ông làm quan đến chức Tả Đô Đốc Hào Quận Công.

Năm Đinh Dậu (1597), bọn thổ phỉ Hải Dương nỗi lên giết tướng trấn giữ, chiếm các huyện Thủy Đường, Nghi Đường. Ông cùng các tướng mang binh thuyền dẹp giặc, bị tử trận.

Vua Lê truy tặng tước Thái Phó, thụy Nghĩa Liệt.

Mộ táng tại làng An Cựu (thành phố Huế).

Ông có 4 người con là: Ông Tuấn, ông Đường, ông Cơ, ông Phú, đều theo đức Thái Tổ vào Nam.

Ông Tuấn làm trấn thủ Quảng Bình (đời Hy Tông) hiệu lệnh nghiêm minh nên dân tình an lạc. Sau được mời về kinh làm quan đến chức Đô Đốc. Ông Đường và ông Cơ làm quan đến Chưởng dinh, ong Phú làm Đội trưởng.

NGUYỄN HẢI  

Tả Đô Đốc Cẩm Quận Công

Ông là con thứ năm của đức Thái Tổ.

Ông làm quan triều Lê đến chức Tả Đô Đốc Cẩm Quận Công. Khi Thái Tổ theo đường biển trở về Thuận Hóa, ông và cháu là ông Hắc ở lại làm con tin.

Ông mất ở Đông Đô (Thăng Long) ngày 11 tháng 6 năm Bính Thìn (24 - 12 - 1616). Lăng và nhà thờ không rõ.

Ông có 4 người con là: Ông Nghiêm, ông Long , ông Công , ông Chất, đều nhập tịch vào Thanh Hóa, thuộc công tánh Nguyễn Hựu.

NGUYỄN PHÚC HIỆP       

Ông là con thứ bảy của đức Thái Tổ.

Ông làm quan đến chức Chưởng cơ, tước Quận Công, Ông cùng em là Trạch mưu phản, bị bắt và bị hạ ngục. Ông bị tước tôn tịch và bị đổi sang họ Nguyễn Thuận

Con cháu không rõ.

NGUYỄN PHÚC TRẠCH       

Ông là con thứ tám của đức Thái Tổ.

Ông làm quan đến chức Chưởng cơ, tước Quận Công, Cùng anh là Hiệp mưu phản, bị bắt và bị hạ ngục. Ông bị tước tôn tịch và bị đổi sang họ Nguyễn Thuận

Không có con.

NGUYỄN PHÚC DƯƠNG       

Tả Đô Đốc Nghĩa Quận Công

Ông là con thứ chín của đức Thái Tổ.

Ông làm quan triều Lê đến chức Tả Đô Đốc Quận Công (thường gọi là Nghĩa Quận Công).

Mộ táng ở Thanh Hóa, nhà thờ không rõ. Ông không có con.
NGUYỄN PHÚC KHÊ       

Nghĩa Hưng Quận Vương

Ông là con thứ mười của đức Thái Tổ, sinh ngày mùng 5 tháng 11 năm Kỷ Sửu (12 - 12 - 1589). Mẹ là Minh Đức Vương Thái Phi. (5)

Ông là người có cơ mưu, giỏi suy đoán. Ban đầu làm Chưởng cơ Tường Quang Hầu.

Năm Bính Dần (1626), ông được đức Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế tấn phong làm Tổng trấn Tường Quận Công. Đức Hiếu Văn giao cho ông toàn quyền quyết đoán việc nước. Chỉ có án tử hình và trọng án thì phải tâu lên. Đến khi đức Hiếu Văn yếu, cho vời vào chịu cố mệnh, bảo rằng: “Ta kế nghiệp Tổ Tiên, trên giúp vua, dưới cứu dân. Nay Thế tử lịch duyệt chưa đủ, mọi việc quốc quân đều ủy thác cho hiền đệ”. Ông rập đầu khóc rằng: “Thần nào dám không hết sức khuyển mã để báo đền”.

Lúc Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan mới nối ngôi, con thứ ba của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là Anh, trấn thủ xứ Quảng Nam làm phản. Chúa Thượng do dự không nỡ đem binh hỏi tội. Ông lấy đại nghĩa để quyết đoán, đem binh đi đánh, bắt Anh giết đi.

Mùa thu năm Bính Tuất (22 - 8 - 1646), Ông qua đời. được truy tặng: Thượng Trụ Quốc  Tổng Trấn Quận Công.         .  Thụy là Trung Nghị. Ông thọ 58 tuổi, lăng táng tại làng Hiền Sĩ (Phong Điền, Thừa Thiên). Nhà thờ ở làng Nam Phổ (Phú Vang, Thừa Thiên).

Năm Át Sửu (1805), vua Gia Long xếp ông vào hàng Công Thần Thượng Đẳng thuở ban đầu lập quốc. Sau này vua Minh Mạng truy phong là Nghĩa Hưng Quận Vương    thờ ở Thái Miếu.

Ông chỗ thân tộc nhà chúa, phụ chính trước sau hơn 40 năm, trải thờ 3 đời chúa, đức cả, công to, được đời trông cậy và coi trọng.

Ông có 13 con trai: Nguyễn Phúc Thanh, Nguyễn Phúc Nghiêm, Nguyễn Phúc Sanh, Nguyễn Phúc Khiêm, Nguyễn Phúc Thực, Nguyễn Phúc Độ, Nguyễn Phúc Mão, Nguyễn Phúc Minh, Nguyễn Phúc Nghị, Nguyễn Phúc Pháp, Nguyễn Phúc Sử, Nguyễn Phúc Triều và Nguyễn Phúc Diệu đều làm đến Chưởng Doanh. Nguyễn Phúc Sanh lại có tên khác là Đạt, thường cầm quân đánh giặc, có quân công, lúc chết được tặng phong Tả Quân Đô Đốc Chưởng Sự, Quận Công. Nguyễn Phúc Diệu làm đến Ngoại TChưởng Doanh.

NGUYỄN PHÚC NGỌC TIÊN         

Bà là trưởng nữ của đức Thái Tổ.

Bà hạ giá lấy Nghiễm Quận Công

NGUYỄN PHÚC NGỌC TÚ             

Bà là con gái thứ hai của đức Thái Tổ.

Khi đức Thái Tổ về Thuận Hóa, sợ họ Trịnh nghi ngờ, gả bà cho Trịnh Tráng là con trai của chúa Trịnh Tùng. Khi Trịnh Tráng lên làm chúa, bà được lập làm Tây cung. Năm Quý Sữu (1613), bà mật sai Nguyễn Cữu Kiều đem thư cùng bửu ấn vào Thuận Hóa dâng lên chúa. Bà cho sửa lại chùa Long Ấn ở thành Thăng Long, lập bia thuật lại công đức của Triệu Tổ và đức Thái Tổ. (Chùa này đến đời Thiệu Trị đổi tên là Hồng Ân).

Bà mất năm Tân Mùi (1631). Được truy tặng là Chính Phi, thụy Từ Thuận. Lăng và nhà thờ ở Thanh Hóa. Bà sinh một con tria tên là Trịnh Kiểu và một con gái tên là Ngọc Trác (Hoàng Hậu của vua Lê Thần Tông).

Hoàng Tử:

1.    NGUYỄN PHÚC KỲ.

2.    NGUYỄN PHÚC LAN

3.    NGUYỄN PHÚC ANH

4.    NGUYỄN PHÚC TRUNG

5.    NGUYỄN PHÚC AN

6.    NGUYỄN PHÚC VĨNH

7.    NGUYỄN PHÚC LỘC

8.    NGUYỄN PHÚC TỨ

9.    NGUYỄN PHÚC THIỆU

10.NGUYỄN PHÚC VINH

11.NGUYỄN PHÚC ĐÔN

Hoàng Nữ:

1.    NGUYỄN PHÚC NGỌC LIÊN.

2.    NGUYỄN PHÚC NGỌC VẠN

3.    NGUYỄN PHÚC NGỌC KHOA

4.    NGUYỄN PHÚC NGỌC ĐỈNH

Ghi chú:

(1) Theo ĐNTL Tiền biên - Quyển II Thực lục về Hy tông Hiếu văn hoàng đế ghi:

Hy Tông Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu văn hoàng đế, húy là [Phước Nguyên], sinh năm Quý hợi [1563] ... Chúa lên nối ngôi, sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phước.”

(2) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển XVIII ghi: Trịnh Tráng sai Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế đem 5000 quân đi tiên phong, còn mình thì đem đại quân thuỷ, bộ tiến sau, đem cả vua Lê cùng đi. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Dật đem bộ binh ra chống cự và hoàng tử Trung đem thuỷ binh tiếp ứng. Quân Nguyễn phản công rất mạnh, quân Trịnh bị tổn hại nhiều.

 Đại Nam Thực lục Tiền biên - Quyển II ghi: Chúa sai Tôn Thất Vệ làm tiết chế, văn chức Nguyễn Hữu Dật làm giám chiến, lĩnh quân bộ ra chống cự. Lại sai hoàng tử thứ tư là Trung chỉ huy quân thủy để tiếp ứng. Quân hai bên đối lũy nhau. Tiên phong của Trịnh là Lê Khuê đem kỵ quân ra cướp trận. Quân ta bắn đại bác, quân Trịnh sợ lui. Đêm ấy quân thủy ta lại thừa cơ nước triều lên bắn vào dinh Nguyễn Khải, quân Trịnh sợ, rối loạn. Trịnh Tráng tiến đến, thế binh rất mạnh. Quân ta đánh không lợi. Quân Trịnh thừa thắng tranh cướp của cải. Quân ta đem tượng binh thúc đánh chặn ngang, làm cho quân Trịnh tan vỡ, chết rất nhiều. Hữu Dật lại bàn mưu với Trương Phước Da (bấy giờ gọi là Lương quận công) sai gián điệp phao đồn rằng anh em Trịnh Gia, Trịnh Nhạc mưu nổi loạn. Tráng nghe tin lấy làm ngờ, bèn rút quân về.

(3) Lũy Động Hải có 2 đoạn. Đoạn thứ nhất chạy từ núi Đầu Mâu, dọc theo nam sông Lệ Kỳ ra đến cầu Dài ở phía nam Đồng Hới. (Đoạn này còn gọi là lũy Đầu Mâu). Đoạn thứ hai tiếp nối với lũy Đầu Mâu, chạy từ cầu Dài, vòng sang phía Tây thành Đồng Hới, bọc lấy làng Đồng Phú, qua Hải Thành ra đến cửa sông Nhật Lệ. (Đoạn này còn được gọi là lũy Nhật Lệ) Hệ thống này gồm bốn tòa lũy, trong đó hai lũy Nhật Lệ và Trường Dục được xây trong giai đoạn 1630-1631 dưới sự chỉ huy của Đào Duy Từ, còn hai lũy kia do học trò của ông là tướng Nguyễn Hữu Dật thực hiện (1634, 1661).

(4) Chưởng cơ Nguyễn Phúc Khê con thứ 10 của Thái tổ, làm Tổng trấn Tường Quận Công. Bấy giờ Chúa tuổi đã cao, việc quân quốc phần nhiều sai ông Khê quyết định. Sau này Nguyễn Phúc Khê được vua Minh Mạng phong tước Nghĩa Hưng Quận Vương.

 (5) Về bà Đoan Quốc Thái Phu Nhân và bà Minh Đức Vương Thái Phi, trong NPT TP, phần Hậu và Phi của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng không thấy ghi, nhưng trong Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên Quyển II, ghi như sau:

Hoàng trưởng tử: Hà

Mẹ là Đoan Quốc Thái Phu Nhân. Hà làm quan nhà Lê, vì có quân công, làm đế;n Tả đô đốc Quận công. Năm Mậu Ngọ (1558, Lê Chính Tự năm đầu), mùa đông, đem gia quyến theo vào Thuận Hóa. Năm Bính Tý (1576) mùa hạ, Hà mất, tặng Thái bảo Hòa quận công.

Hoàng tử thứ 10: Khê.

Mẹ là Minh Đức Vương Thái Phi. Khê có mưu lược và tài phán đoán, trước làm Chưởng cơ, tước Tường quan hầu. Hi Tông Hoàng Đế năm thứ 13 Bính Dần (1626 Lê Vĩnh Tộ thứ 8) mùa xuân, tấn phong Tổng trấn, Tường quận công.

(6) Tên của Ngài Nguyễn Phúc Nguyên      cùng các anh em trai đều có bộ Thủy (), riêng tên ông Nguyễn Thành    lại có bộ qua (  ). Có lẽ là Thanh ( ) chăng?