Tiểu sử của Ngài Nguyễn Hoàng 阮 潢

Ngài

Nguyễn Hoàng 阮 潢
Chúa Tiên

Thái Tổ Gia Dủ Hoàng Đế 太 祖 嘉 裕 皇 帝

Đức Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế sanh năm 1525, mất năm 1613. Năm 1558 Ngài vào trấn thủ ở Thuận Hoá.

Đức Thái Tổ Gia Dủ Hoàng Đế đem mấy người cháu nội là ông Hắc, ông  Vỉnh (con Hoàng Tử Hải ) gởi cho vua Lê để làm tin. Mấy ông này vè sau lập nên họ Nguyễn Hựu. Lăng Đúc Thái Tổ Gia Dủ Hoàng đế gọi là Trường Cơ, ở làng La Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lăng Đức Bà táng tại làng Hải Cát cùng thuộc huyện Hương Trà.

Ngài và Bà đều được thờ tại Chánh Án Trong Thái Miếu (Kinh Thành Nội).

Hệ Nhì có ba Phòng, nam có 270 người (năm 1943). Mỗi Phòng đều có nhà thờ riêng. Nhà thờ ngài Hoà Quận Công và Hào Quận Công đều tại làng Dương Xuân Hạ, tổng Cư Chánh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thùa Thiên. Nhà thờ ngài Nghĩa Hưng Quận Vương ở làng Phổ Nam, tổng Dương Nổ, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên.

Vì can quốc chánh, nên Hoàng Tử Hiệp và Hoàng Tử Trạch bị tước tịch. Con cháu về sau đều lấy họ Nguyễn Thuận.

(Trích Hoàng Tộc Lược Biên)

Chúa Nguyễn Hoàng là con thứ 2 của An Thanh Hầu Nguyễn Kim. khi còn dưới triều Lê, Ngài đã là một tướng tài lập nhiều công lớn, được Vua Lê phong tước Đoan Quận Công. Sau khi anh trưởng Nguyễn Uông bị anh rể là Chúa Trịnh Kiểm kiếm chuyện giết đi. Ngài Nguyễn Hoàng lo sợ bị Chúa Trịnh ganh ghét ám hại, nên nghe lời khuyên "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã xin vào trấn thủ đất Thuận Hoá, lúc mới vào đóng tại xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (8) tỉnh Quảng Trị năm 1558.

Lúc đầu Ngài Nguyễn Hoàng vừa lo xây dựng củng cố Thuận Hoá để dung thân, vừa lo quân họ Mạc đánh phá khắp nơi, nhưng vẫn một lòng giữ nghĩa khí phò Lê. Ngài vẫn thường ra chầu Vua Lê ở Thăng Long. Năm 1593, Ngài đưa quân ra Bắc Hà giúp Trịnh Tùng đánh dẹp họ Mạc trong 8 năm trời rồi bị họ Trịnh lưu giữ lại, không cho Ngài trở về. Mãi đến năm 1599, nhân có vụ quân binh chống họ Trịnh, Ngài mới có cớ đưa quân sĩ trở về Thuận Hoá. Từ đó, Ngài lo cơ sở, mở mang bờ cõi, phòng bị quân Trịnh vào đánh phá.

Trong suốt 55 năm Chúa, Ngài đã tỏ ra là một vị tướng mưu lược, khôn ngoan lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, an ủi nhân dân, cho nên dân chúng Thuận Quảng cảm mếm, gọi Ngài là Chúa Tiên.

Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 Ngài thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên, chiếm đất từ bắc Quảng Nam đến đèo Cù Mông, lập thành phủ Phú Yên.

Chúa Nguyễn Hoàng lập ra Hệ Nhì Tiền Biên, có 10 Công Tử và 2 Công Nữ.

(Trích Nguyễn Phước Tộc thế phả)

ĐỨC THÁI TỔ GIA DŨ HOÀNG ĐẾ

CHÚA TIÊN

Húy NGUYỄN  HOÀNG

(1525 - 1613)

Hệ II

 


Ngày sinh: 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28-8-1525)

Ngày mất: mồng 9 tháng 6 năm Quí Sửu (20 – 7 – 1613)

Thân Phụ:  Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế Nguyễn Cam

Thân Mẫu: Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Hậu Nguyễn Thị Mai

Lăng Tẩm: Trường Cơ (La Khê, Hương Trà , Thừa Thiên)

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.

Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế húy là Nguyễn Hoàng (1), con trai thứ hai của đức Triệu Tổ Nguyễn Cam và Hoàng Hậu Nguyễn Thị Mai. Ngài sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28-8-1525)

Lúc mới hai tuổi, đức Triệu Tổ gửi ngài cho em vợ là Nguyễn Ưng Kỷ nuôi nấng, Ngài được cậu hết lòng chăm sóc.

“Thực Lục” chép: “ Ngài có tướng vai Lân, lưng Hổ, mắt Phượng, trán Rồng, thần thái khôi ngô, thong minh tài trí, người thức giả biết là bậc phi thường.”

Năm Ất Tỵ (1545) đức Triệu Tổ mất, lúc này ngài 21 tuổi, được tập phong tước Hạ Khê Hầu   . Ngài đem quân đánh nhà mạc, giết tướng Mạc trở về, được vua Lê khen: “Thực là cha h sinh con h.”

Đời Lê Trung Tông, ngài được tấn phong tước Đoan Quận công    (2). Khi Trịnh Kiểm chuyên quyền ám hại Lãng Quận công Nguyễn Uông (anh của ngài), ngài nghe mưu của cậu là Nguyễn Ư Kỷ, cáo bệnh giữ mình. Hiểu ý câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “ Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân” và theo lời khuyên của cậu, ngài nhờ chị là Ngọc Bảo xin với Trịnh kiểm cho vào trấn đất Thuận Hoá. (3)

Năm Mậu Ngọ (1558), ngài đem những người đồng hương huyện Tống Sơn và nghĩa dũng xứ Thanh Hoa vào đóng ở xã Ái Tử huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, Quảng Trị). Ngài vỗ về dân quân, thu dung hào kiệt, sưu thuế nhẹ nên nhân dân mến phục, thường xưng tụng là Chúa Tiên.

Năm Canh Ngọ (1570), ngài dời đô qua làng trà Bát cũng thuộc huyện Vũ Xương, năm này ngài được phong làm Tổng Trấn Tướng quân kiêm lãnh hai xứ Thuận - Quảng.

Năm Nhânm Thân (1572), tướng Mạc là Lập Bạo đem quân vào đánh Thuận Hoá bị ngài đánh bại và giết chết. (4)

Năm Quí Dậu (1573), vua Lê Thế Tông lên ngôi, sai sứ đem sắc tấn phong ngài chức Thái Phó  .

Mười năm trấn nhậm với chính sách rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Chợ không bán 2 giá, người không có trộm cướp, đêm ngủ không phải đóng cửa. Thuyền buôn ngoại quốc đến buôn bán đông đúc. Xứ Thuận – Quảng trở thành nơi đô hội lớn.

Năm Quý Tỵ (1593), Trịnh Tùng dẹp nhà Mạc, rước vua Lê trở về Đông Đô, ngài đem quân ra yết kiến được vua phong chức Trung quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc chưởng phủ sự, Thái Uý Đoan Quốc Công, Ngài ở Đông Đô 8 năm, thường đem quân đi đánh dẹp tàn quân nhà Mạc, đánh đâu thắng đó. đánh Mạc Ngọc Liễn ở Vĩnh Lại, đánh Vũ Đức Cung ở Đại Đồng, các phủ Tiên Hưng, Kiến Xương bình được cả.

Sau bọn nguỵ Tráng Vương Mạc Kính Chương, Thái quốc công, Hoa quốc công, Nghiên quốc công, Cẩm quốc công, Cường quốc công, Đông quốc công đều chiếm giữ vùng Hải Dương. Ngài đem quân đi tiễu trừ thu bắt,  đánh phá dẹp yên được hết, bắt sống rất nhiều tướng nguỵ, chém được quân giặc nhiều không kể xiết. Nguỵ Cương quốc công chạy lên bờ, nguỵ Tráng Vương Mạc Kính Chương và Thái quốc công chạy vào Yên Quảng. Hai xứ Hải Dương, Sơn Nam cũng dẹp yên dần. (5)

Năm Ất Mùi (1595), ngài được cử làm Đề điệu (Một trong các chức quan trọng trong các khoa thi, điều hành công việc thi cử) khoa thi tiến sĩ.

Năm Kỷ Hợi (1599), vua Thế Tông băng, vua Kính Tông lên ngôi, tấn phong ngài làm Hữu Tướng.

Ngài ở Đông Đô lập nhiều chiến công, Trịnh tùng không cho ngài trở về Thuận Hoá vì sợ “thả hổ về rừng”.

Năm Canh Tý (1600), ngài lập kế đi đánh Phan Ngạn Bùi Văn Khuê, rồi đem tướng sĩ, binh thuyền theo đường biển về Thuận Hoá, Ngài dời dinh sang phía đông dinh Ái Tử gọi là dinh Cát. Muốn Chúa Trịnh khỏi nghi ngờ, ngài để lại một người con là Nguyễn Hải và một cháu là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin và sau lại gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, (con cả của Trịnh Tùng). Vua Lê và Chúa Trịnh sai sứ vào phủ dụ.

Năm Tân Su (1601), ngài cho xây chùa Thiên Mụ (Khi ngài dạo xem hình thể núi sông, thấy giữa đồng bằng xã Hà Khê, Hương Trà, Thừa Thiên nổi lên một gò cao như hình đầu rồng quay lại, phía trước nhìn ra song lớn, phía sau có hổ rộng, cảnh trí rất đẹp. Ngài nghe dân địa phương kể lại rằng: “Xưa, có người đêm thấy một bà già áo đỏ, quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói sẽ có một vị chân Chúa đến xây chùa ở đây để tụ linh khí, cho bền long mạch”. Vì vậy ngài cho dựng chùa trên gò này và đặt tên là chùa Thiên Mụ).

Năm Nhâm Dần (1602), ngài sai Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn thủ dinh Quảng Nam là xứ đất tốt, dân đông, sản vật giàu có để cho Thế Tử tập làm chính sự. Ngài cho lập thêm các chùa Long Hưng (Duy Xuyên, Quảng Nam), Bảo Châu  (Trà Kiệu, Quảng Nam)và Kính Thiên (Lệ Thủy, Quảng Bình).

Năm Tân Hợi (1611), quân Chiêm xâm lấn bờ cõi, ngài sai tướng đem quân đánh dẹp, lấy vùng đất biên giới lập thành phủ Phú Yên.

Năm Quý Sửu(1613), ngày mồng 3 tháng 6 (20-7), ngài yếu, cho triệu Thế Tử và Thân thần đến trước ngự sàng bảo rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam kh đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông vui lòng giúp đỡ cho nên công nghiệp.” Rồi ngài dặn Thế Tử: “ Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em phải thương yêu nhau. Con mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì.” Ngài lại nói: “Đất Thuận – Quảng, Bắc có Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi bền vững, núi sẵn vàng, sắt; biển sẵn cá, muối thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh chống với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng Thế lực không thể địch được thì cố giữ đất đai chờ cơ hội, đừng bỏ qua lời dặn của ta.”Dặn dò xong ngài băng, ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi.

Đức Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế là vị Chúa đầu tiên khai sáng nhà Nguyễn, là người đặt nền tảng cho việc xây dựng cơ nghiệp triều Nguyễn sau này.

Với t chức chính sự rộng rãi, có qui c, sưu thuế nhẹ, quân lệnh nghiêm trang, lấy sự an cư lạc nghiệp của dân làm gốc, ngài đã mở đầu cho sự phát trin nửa đất nước trù phú về phía Nam của dân tộc Việt. Dưới thời ngài, biên giới đất nước đã đến tận Phú Yên.

Ngài thuộc đời thứ hai của họ Nguyễn Phúc, khai sang ra hệ II hiện nay gồm có 3 phòng:

1. Phòng một tức là phòng Hòa Quận Công

2. Phòng bốn tức là phòng Hảo Quận Công

3. Phòng mười tức là phòng Nghĩa Hưng Quận Vương

LĂNG, MIẾU VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN

Ngài mất, lúc đầu táng ở núi Thạch Hãn thuộc huyện Hải Lăng (Quảng Trị), sau cải táng về núi La Khê (Hương Trà, Thừa Thiên). Vua Gia Long đặt tên lăng là Trường Cơ, vua Minh Mệnh đổi tên núi La Khê là Khải Vận sơn.

Năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dựng Thái Miếu ở phía trước Triệu Miếu, gồm 13 gian 2 chái để thờ các Chúa và công thần đời trước. Ngài và Hoàng Hậu được thờ ở án chánh giữa. Bên tả Thái Miếu có dựng điện Long đức để tổ chức các lễ kỵ.

Khi ngài mất, vua Lê truy tặng: Cẩn Nghĩa Công thụy là Cung Ý.

Đời Chúa Sãi, ngài được truy tôn:  “Cn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia D Vương”.

Đời Vũ Vương, ngài được truy tôn: “Liệt Tổ Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia D Thái Vương”.

Vua Gia Long truy tôn:

Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia D Hoàng Đế.

   耀 .

Miếu hiệu là Thái Tổ.

GIA ĐÌNH (6)

Hậu và Phi

Theo số lượng Hoàng Tử và Hoàng Nữ và một vài gia phả thì ngoài chính phu nhân (Hoàng Hậu), ngài có thêm 2 bà nữa nhưng danh tánh và tiểu sử các vị này không rõ.

THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG HẬU 

Bà họ Nguyễn, tiểu sử không rõ

Bà mất ngày 16 tháng 5 Âm lịch, không rõ năm. Lăng táng tại làng hải cát (Hương Trà, Thừa Thiên). Năm Giáp Tý (1744) Vũ Vương Truy tôn: Từ Lương Quang Thuc Ý Phi”, sau thêm hai chữ Minh Đức.

Năm Bính dần (1806) vua Gia Long truy tôn:

Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia D Hoàng Hậu.

.

Bà được phối thờ với đức Thái Tổ ở Thái Miếu. Tên lăng là Vĩnh Cơ.

Trong văn sách truy tôn có ghi 2 câu:

“Cầm búa dựng nước là công đức của Thánh.

Mang ngọc quý trị nhà do ân từ của Hậu.”

Bà chỉ sinh một người con là Nguyễn Phúc Nguyên (Hy Tông Hoàng Đế)

Hoàng Tử và Hoàng Nữ

Đức Thái Tổ có 10 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ :

Hoàng tử:

1. Nguyễn Hà

2. Nguyễn Hán

3. Nguyễn Thành

4. Nguyễn Diễn

5. Nguyễn Hải

6. Nguyễn Phúc Nguyên

7. Nguyễn Phúc Hiệp

8. Nguyễn Phúc Trạch

9. Nguyễn Phúc Dương

10. Nguyễn Phúc Khê

Hoàng nữ:

1. Nguyễn Phúc Ngọc Tiên

2. Nguyễn Phúc Ngọc Tú

Vì can quốc chánh, nên Hoàng Tử Hiệp và Hoàng Tử Trạch bị tước tịch. Con cháu về sau điều lấy họ Nguyễn Thuận Đức Thái Tổ Gia D Hoàng Đế đem mấy người cháu nội là ông Hắc, ông Vĩnh (con Hoàng Tử Hải ) gởi cho vua Lê để làm tin. Mấy ông này về sau lập nên họ Nguyễn Hựu. Lăng Đức Thái Tổ Gia D Hoàng đế gọi là Trường Cơ, ở làng La Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lăng Đức Bà táng tại làng Hải Cát cùng thuộc huyện Hương Trà.

Ngài và Bà đều được thờ tại Chánh Án Trong Thái Miếu (Kinh Thành Nội).

Hệ Nhì có ba Phòng, nam có 270 người. Mỗi Phòng đều có nhà thờ riêng. Nhà thờ ngài Hoà Quận Công và Ho Quận Công đều tại làng Dương Xuân Hạ, tổng Cư Chánh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thùa Thiên. Nhà thờ ngài Nghĩa Hưng Quận Vương ở làng Phổ Nam, tổng Dương Nổ, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên.

Anh chị em:

1. Lãng Quận Công  

NGUYỄN UÔNG  

Ông là con trưởng của Đức Triệu Tổ. Lúc Triệu Tổ mất,ông được tập ấm là Lãng Xuyên Hầu, sau được tấn phong là Tả tướng Lãng Quận Công.

Trịnh Kiểm muốn tranh đoạt quyền bính nên hãm hại ông. Ông mất ngày 11 tháng giêng năm âm lịch, năm mất không rõ. Lúc đầu, mộ táng ở Thanh Hoa, sau cải táng đến vùng Long Thọ làng Dương Xuân Thượng (Thừa Thiên). Lăng và phủ thờ ông đều ở Long Thọ.

2. Vương Thái Phi

NGUYỄN THỊ NGỌC BẢO

Bà là chị của Đức Thái Tổ. Theo gia phả họ Nguyễn ở Bồng Trung, mẹ bà họ Đỗ.

Năm Quý Tỵ (1533), Đức Triệu Tổ gả bà cho Trịnh Kiểm. Đức Thái Tổ bị Trịnh Kiểm ghen ghét, nhiều lần muốn mưu hại. Bà biết ý thường khéo dùng lời khuyên ngăn, tìm cách xin cho Thái Tổ vào trấn Thuận Hóa.

Mùa thu năm Bính Tuất (1586), cung chúa Trịnh bị hỏa tai, bà bị nạn mà mất. Bà được truy tặng là Vương Thái Phi, thụy là Từ Nghi.

Bà sinh ra Trịnh Tùng kế nghiệp Trịnh Kiểm làm chúa phương Bắc.

Ghi Chú:

(1) Tước của Ngài là Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế (           ). Nhưng rất nhiều tài liệu ghi Ngài là Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế.

(2) Nhiều tài liệu ghi là Đoan Quốc Công      . Theo ĐNTL, Ngài được phong tước Đoan Quận Công vào thời vua Lê Trung Tông (1548 – 1556).

(3) Tháng 10, Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu tâi xin sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh công (Tức Nguyễn Kim) là Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn thủ xứ Thuận Hoá để phòng giặc phía đông cùng với Trấn quận công (không rõ tên) ở Quảng Nam cứu viện cho nhau. ( Sau khi Nguyễn Kim chết, binh quyền về tay Trịnh Kiểm. Hai người con trai của Nguyễn Kim thì một người là Lãng quận công tả tướng Nguyễn Uông đã bị Trịnh Kiểm mưu sát. Đoan quận công Nguyễn Hoàng lo cho số phận của mình, nhờ chị là Trưởng công chúa Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn thủ Thuận Hoá. Trịnh Kiểm cũng muốn trừ bỏ mối lo bên cạnh mình, nên đồng ý cho đi. Nguyễn Hoàng đem quân thủ hạ của mình vào Thuận Hoá, đóng dinh ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, trên sông Ái Tử.) (Theo: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển XVI)

(4) Bấy giờ, viên tướng vong mệnh ở Bố Chính là Tiên quận công dẫn đường cho tướng Hải Dương là Lập quận công, đem hơn 60 binh thuyền đi đường biển vào cướp các xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Dân địa phương nhiều người đầu hàng. Từ đấy, thế giặc lại mạnh. Trấn thủ Nguyễn Hoàng dùng mưu dụ Lập đến, chém ở giữa sông, quân giặc tan vỡ, vượt biển trở về, bỗng gặp gió bão, chết hết ở ngoài khơi. Tiên quận công trốn về châu Bố Chính, lại về với họ Mạc. Đất Thuận Quảng lại được yên. Nguyễn Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính lệnh khoan hoà, thưởng ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh, khuyên răn tướng sĩ bản bộ. Cấm chỉ, trừ bỏ bọn hung ác, dân hai trấn đều cảm mến nhân đức, thay đổi phong tục, chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều tới buôn bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắng sức. Do vậy, họ Mạc không dám dòm ngó, trong cõi được an cư lạc nghiệp. (Theo: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển XVI)

(5)  Điều thú vị là trong thời gian này, Ngoài công lớn diệt trừ quân Mạc nhiều trận toàn thắng cho nhà Lê, Ngài có thể là ông Tổ chế tạo xe hai bánh xưa. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển XVII có ghi:

”Tiết chế Trịnh Tùng cho đóng xe hai bánh, trang sức bằng ngọc ngà, trên xe làm mui sơn, hai bên xe khắc lan can bằng ngà, bốn vách sơn then, thếp vàng. Lại làm thang nhỏ để lên xe. Trước xe đặt một đòn ngang, sai bốn lực sĩ đẩy. Kiểu xe này do Thái Phó Nguyễn Hoàng sáng chế”.

(6) Từ đây về sau, trong mục GIA ĐÌNH của các tiên Chúa sẽ có những đề mục nhỏ như: Hậu và Phi, Hoàng Tử và Hoàng Nữ (hay Công Chúa). Thực tế lúc ấy các Chúa chưa lên ngôi Vua, nhưng sau này đều được phong Hoàng Đế, nên Phu Nhân và các con của các ngài sẽ được dùng với chức danh, tước vị cao nhất.