Tiểu sử của Ngài Nguyễn Cam 阮 淦

Ngài

Nguyễn Cam 阮 淦
Nguyễn Kim

Triệu Tổ Tịnh Hoàng Đế 太 祖 嘉 裕 皇 帝

 

Đức Triệu Tổ Tịnh Hoàng Đế đã khai sáng ra Nguyễn Triều ta và lập thành Hệ Nhứt

Ngài huý Nguyễn Kim, sanh năm 1468, mất năm 1545. Ngài sanh hạ được 2 vị Hoàng Tử:

Lăng của Ngài tên gọi là Trường Nguyên, táng ở núi Triệu Tường, thuộc làng Quí Hương, huyện Quí Huyện, tỉnh Thanh Hoá. Lăng của Đức Bà cũng táng gần đó.

Đức Triệu Tổ Tịnh Hoàng Đế và Bà Nguyên Phối đều thờ tại Triệu Miếu trong Kinh Thành nội, nhà thờ Ngài Tả Tướng Lãng Quận Công toạ lạc gần Long Thọ (làng Dương Xuân) Huế.

Hiện nay (năm 1943), kể về đàn ông, Hệ Nhứt được khoảng 320 người.

(Trích Hoàng Tộc Lược Biên)

Ngài Nguyễn Kim là người sáng lập ra Hệ Nhất Tiền Biên. Ngài là con Trình Quốc Công Nguyễn Hoàng Dụ (có sử chép là Nguyễn Lựu), cháu nội Nghĩa Huân Vương Nguyễn Văn Lang.

    Cuối đời nhà Lê, Ngài Nguyễn Kim là một tướng giỏi, có nhiều công lao được phong tước An Thành Hầu. Khi nhà Lê bị họ Mạc cướp ngôi (1527), con cháu nhà Lê chạy trốn sang Lào. Lúc bấy giờ hầu hết các cựu thần nhà Lê ngã về họ Mạc hoặc bỏ đi nơi khác, chỉ có Ngài Nguyễn Kim là lo chiêu tập hào kiệt bốn phương lánh lên Sầm Châu (vùng Thanh Hoá giáp Lào) lập bản doanh phò Lê diệt Mạc. Sau đó Ngài đã tìm được con Vua Lê là Lê Duy Ninh ở Lào và đưa về tôn lên ngôi Vua là Lê Trang Tôn (1533-1548), xây dựng hành điện ở xã Vạn Lại, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Ngài Nguyễn Kim được Vua Lê phong làm Thái Sư, Hưng Quốc Công, nắm giữ tất cả binh quyền.

Năm 1545 Ngài Nguyễn Kim bị một hàng tướng họ Mạc đầu độc chết. Vua Lê truy tặng tước Chiêu Huân Tỉnh Vương.

Ngài Nguyễn Kim lập ra Hệ Nhất Tiền Biên, gồm có 2 Công Tử và 1 Công Nữ.

(Trích Nguyễn Phước Tộc thế phả)

ĐỨC TRIỆU TỔ TĨNH HOÀNG ĐẾ
Húy NGUYỄN CAM (KIM)
(1468 - 1545)
Hệ I

Ngày sinh: Năm Mậu Tý 1468 (ngày tháng không rõ)

Ngày mất: 20 tháng 8 năm Ất Tỵ (28-6-1545)

Thân Phụ:  Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu

Thân Mẫu: Trừng Quốc Công phu nhân (họ Mai tên không rõ)

Lăng Tẩm: Lăng Ngài Nguyễn Cam gọi là Trường Nguyên ở núi Thiên Tôn (sau đổi tên là núi Triệu Tường), làng Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoa. (Hiện nay là làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa).

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP.

Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế Húy là NGUYỄN CAM. (1)

Ngài là con đầu của Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu. Mẹ họ Mai, tên huý không rõ. Ngài sinh năm Mậu Tý (1468), ngày tháng sinh không rõ.

Thời trai trẻ, ngài tài kiêm văn võ. Ban đầu ấm thụ làm quan coi lính. Đến đời Vua Lê Chiêu Tông (1516-1524) ngài giữ chức Hữu (*) Vệ Điện Tiền Tướng Quân 殿   tước An Thanh (**) Hầu , trông coi tỉnh Thanh Hoa (Thanh Hoa sau vì kiêng đổi lại là Thanh Ba, về sau đổi lại là Thanh Hoá).

Năm 1522 Mạc Đăng Dung phế vua Chiêu Tông làm Đà Giang Vương, lập Hoàng đệ Xuân lên làm vua tức Lê Cung Hoàng.

Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung giết vua Lê Cung Hoàng, cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê mất. Triệu Tổ giận họ Mạc tiếm nghịch, chí muốn khôi phục nhà Lê, nên dẫn con em tránh sang Ai Lao. lúc đó ngài đã 59 tuổi. Vua Ai Lao là Sạ Đẩu cấp cho ngài Sầm Châu (Tức là Sầm Nứa ngày nay) để ở. Bấy giờ, Ngài chiêu tập những người trung dũng, hào kiệt, quân chúng có hàng mấy nghìn người, voi có ba chục thớt, bàn mưu tìm con cháu nhà Lê để lập làm vua. Gửi con thứ là Nguyễn Hoàng, mới 2 tuổi, cho em vợ là Nguyễn Ư  Kỷ nuôi dạy để mình tiện lo việc lớn.

Năm Canh Dần (1530), Ngài đem quân về Thanh Hoa. Mạc Đăng Doanh (con trưởng Mạc Đăng Dung) sai tướng là Ngọc Trục (không rõ họ) chống cự, đánh nhau ở huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân Thanh Hóa), Ngọc Trục thua chạy. Năm Tân mão (1531), ông đánh phá được tướng Mạc là Nguyễn Kính ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), chém hơn một nghìn đầu. Khi tiến đến Điềm Thủy huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình), lại đánh luôn mấy trận với tướng Mạc là Lê Bá Ly được to. Gặp trời mưa dầm, nước lụt lai láng, quân Mạc cho nhiều chiến thuyền tiếp nhau tiến đến, Ngài bèn rút quân về sách Sầm Hạ ở Ai Lao, chỉnh đốn lại binh mã.

Năm Quý tỵ (1533) Ngài đón con trai nhỏ của Lê Chiêu Tông là Ninh lập làm vua, lấy niên hiệu là Nguyên Hòa, tức là Trang Tông. (Khi nhà Lê mới mất, Trang Tông còn thơ ấu, bầy tôi là bọn Trịnh Duy Tuấn và Lê Lan rước tránh sang Ai Lao, ở trà trộn với nhân dân, không ai biết. Đến bấy giờ, Triệu Tổ tìm khắp nơi mới được, bèn lập làm vua). Do công ấy, Ngài được phong chức Thượng Phụ Thái Sư Hưng Quốc Công    Chưởng nội ngoại sự.

Bấy giờ có người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phước (huyện Vĩnh Lộc bây giờ) tên là Trịnh Kiểm đến yết kiến (Kiểm sau làm tổ họ Trịnh). Triệu Tổ thấy Kiểm có vẻ lạ, mới gả con gái lớn là Ngọc Bảo cho, sai coi mã quân và xin phong cho làm tướng quân. Năm Canh tý (1540), Ngài đem quân đóng giữ Nghệ An, hào kiệt theo rất nhiều. Năm Nhâm dần (1542) đi tuần hành trong đất Thanh Hoa, tiếng quân lừng lẫy, xa gần đều phục. Năm Quý mão (1543) rước vua Lê tiến binh ra Tây Đô (tức là Thanh Hoa) để đánh Mạc Chính Trung (con thứ hai Mạc Đăng Dung, có tên nữa là Đăng Xương), được tấn phong Thái tể đô tướng tiết chế các dinh thủy bộ, chia đường đều tiến, đánh đâu được đấy.

Năm Ất Tỵ ( 1545) Ngài định Tiến ra Đông Đô (Thăng Long) nhưng bị lụt phải trở về Thanh Hoa, đóng quân ở Yên Mô (Ninh Bình), Hàng tướng sĩ nhà Mạc là Dương Chấp Nhất dâng quả đưa có thuốc độc để hại ngài. Ngài mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (28-6-1545), thọ 78 tuổi.(***)

LĂNG, MIẾU VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN

Được tin ngài mất, vua Lê vô cùng thương tiếc, truy tặng ngài tước Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiếu, Linh cữu ngài được đưa về Bái Trang, huyện Tống Sơn (Thanh Hoa), táng tại núi Thiên Tôn, khi táng trời nổi mưa gió sấm chớp, ai cũng sợ bỏ chạy. Lúc trời tạnh trở lại thì đá núi , cây cỏ tươi tốt, không biết huyệt táng nơi nào nữa.

Năm Giáp Ngọ (1594) vua Lê Thế Tông truy tặng ngài: Chiêu Huân Phụ Triết Tĩnh Công ( ).

Đời Tiên Vương (Chúa Tiên Nguyễn Hoàng), Ngài được truy tôn: Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vỹ Tích Chiêu Huân Tĩnh Vương.

Đời Vũ Vương (Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát), Ngài được truy tôn: Di Mưu Thùy Dụ (貽謀垂裕) Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hòanh Hưu Tế Thế Vỹ Tích Chiêu Huân Tĩnh Vương.

Năm Quý Hợi (1803) vua Gia Long cho dựng Nguyên Miếu gồm ba gian hai chái ở phía đông núi Thiên Tôn gọi là miếu Triệu Tường để thờ hai Ông Bà.

Năm Giáp Tý (1804) vua Gia Long cho dựng Triệu Miếu trong Hoàng thành để thờ ngài. Mỗi năm làm lễ kỵ vào ngày 20 tháng 5 âm lịch và 5 lễ hưởng: Xuân hưởng (mồng 8 tháng giêng ÂL), Hạ hưởng (mồng 1 tháng 4 ÂL), Thu hưởng (mồng 1 tháng 7 ÂL), Đông hưởng (mồng 1 tháng 10 ÂL) và hợp hưởng (22 tháng 10 ÂL).

Năm Bính dần (1806) vua Gia Long truy tôn ngài: Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh Hoàng Đế. Miếu hiệu là Triệu Tổ

Năm Mậu Thìn (1808) vua Gia Long đặt tên lăng ngài là Trường Nguyên. Vì lăng không có dấu tích nên xây một nền vuông dưới chân núi để làm chỗ bái yết.

Năm Tân Tỵ (1821) vua Minh Mệnh đổi tên núi Thiên Tôn là núi Triệu Tường. Năm Nhâm Ngọ (1822) vua Minh Mệnh cho sửa Triệu Miếu và dựng bia ở lăng Trường Nguyên để tỏ rõ công nghiệp của đức Triệu Tổ. Bài Minh như sau:

“Đất lớn chúa thiêng, sinh ra Triệu Tổ,

Vun đắp cương thường, nêu rạng Thánh Võ.

Nghĩa động quỷ thần, công truyền vũ trụ

Cõi trần rời bỏ, lăng ở Bái trang

Non nước bao bọc, sầm uất tùng xanh.

Khí thiêng nhóm họp, đời đời xương vinh

Mệnh trời đã giúp, con cháu tinh anh

Võ công dựng nước, bèn tìm gốc nguồn

Truy tôn, dựng miếu, lăng gọi Trường Nguyên

Tân tỵ Bắc tuần, đến đây dựng lại

Trông ngắm non sông, nhớ đến gốc cội

Khắc chữ vào bia, lưu ức vạn tài.”

Đức Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế là khai quốc công thần của nhà Lê trung hưng. Tuy giữa chừng bị hại nhưng công trạng to lớn của ngài sử sách đều ghi rõ.

Ngài là Thuỷ Tổ của họ Nguyễn Phúc ở miền Nam. Ngài khai sáng ra hệ I Tiền Biên trong Nguyễn Phúc Tộc.

GIA ĐÌNH

Các vị Phu Nhân:

Theo một số gia phả, Ngài có 3 phu nhân

1.    NGUYỄN THỊ MAI      

Ngày sinh:  Không rõ.

Thụy hiệu TRIỆU TỔ TĨNH HOÀNG HẬU

Ngày mất 23/1 Âm lịch.

Nơi an táng núi Thiên Tôn

Bà húy là Nguyễn Thị Mai, con ông Nguyễn Minh Biện (quê ở Phạm Xá, tỉnh Hải Dương làm quan triều Lê, chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thư Vệ Sự). Tiểu sử không rõ.

Bà là người thuần hậu, đức hạnh vẹn toàn. Bà mất ngày 23 tháng giêng Âm lịch, không rõ năm. Bà hợp tang tại núi Thiên Tôn với đức Triệu Tổ, không làm lăng riêng.

Năm Giáp Tý (1748), Chúa Vũ Vương truy tôn Bà: Từ Tín Chiêu Ý Đức Phi.

Năm Bính Dần (1806), Vua Gia Long truy tôn Bà: Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu. Bà được phối thờ với Đức Triệu Tổ ở Triệu Miếu trong Hoàng thành.(2) Tên Lăng của bà là Vĩnh Nguyên.

2.    ĐỖ THỊ TÍN      

Thứ phu nhân

Bà húy là Đỗ Thị Tín , tiểu sử không rõ

Bà sinh ra Thái phi Ngọc Bảo.

3.    Khuyết danh

Thứ phu nhân , tiểu sử không rõ.

Con trai:

NGUYỄN UÔNG

NGUYỄN HOÀNG,

Con gái:

NGUYỄN THỊ NGỌC BẢO

Anh chị em:

1.    Uy Xuân Hầu ,NGUYỄN TÔNG THÁI               

Ông làm quan đời nhà Lê, chức Điện Tiền Đô Tổng Binh sứ, chức Uy xuân Hầu. Dưới triều Lê Trang Tông, ông được phong chức Đảng Khấu Tướng Quân coi ba tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên, chống nhau với nhà Mạc vài mươi năm. Sau bắt được Mạc Kính Dụng, ông dược phong làm Thái Nguyên – Cao Bằng Phủ Quân Dân Sự.

2.    Thái Phó Uy Quốc Công , NGUYỄN Ư KỶ (3)

Ông húy là Nguyễn Ư Kỷ, em ruột của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Hậu. Ông quê quán ở Hải Dương, con của ông Nguyễn Minh Biện (làm quan triều Lê với chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thự Vệ Sự).

Ông làm quan triều Lê đến chức Thái Phó Uy Quốc Công.

Năm Đinh hợi (1527) Mạc Đăng Dung đoạt ngôi nhà Lê, Đức Triệu Tổ gửi con thứ là Nguyễn Hoàng cho ông để lo việc nước. Ông hết lòng chăm sóc.

Khi đức Triệu Tổ mất, Thái Tổ ra làm quan với triều Lê được phong làm Thái Bảo Đoan Quận Công. Trịnh Kiểm ghen ghét muốn hại, ông khuyên Thái Tổ giả cuồng, cử chỉ tỏ ra thất thường để Trịnh Kiểm khỏi để ý. Về sau, Trịnh Kiểm quyết tâm mưu hại, Thái Tổ kinh hãi, bàn mưu với ông, ông nói: “Kiểm đã cố tâm mưu hại, cần phải tránh xa. Đất Thuận Hóa hiểm trở, vững chắc có thể giữ yên thân mình, cháu nên nhờ chị Ngọc Bảo (chính phi của Trịnh Kiểm) nói với Kiểm xin trấn giữ đất này để mưu đồ việc lớn về sau”. Thái Tổ nghe theo và nhờ người nói với chính phi, phi lựa lúc nói với Trịnh Kiểm. Kiểm cho rằng Thuận Hóa là vùng đất ác chướng, lại có tướng nhà Mạc đóng ở đấy, muốn mượn tay nhà Mạc hại Thái Tổ, bèn xin vua Lê phong cho Thái Tổ giữ đất này.

Ông dẫn con em theo Thái Tổ vào trấn giữ Thuận Hóa. Đến Ái Tử, Sa Khâu (huyện Đăng Xương) dân đem dâng 7 vò nước trong. Ông bảo với Thái Tổ: “Trời đã ban cho, tất có điềm trước. Nay Chúa thượng mới đến đây mà dân đã đem hiến nước là điềm được nước”. Thái Tổ bằng lòng cho lập dinh ở Ái Tử. Về sau khi Thái Tổ trở ra Đông Đô trong tám năm rồi mới trở về Thuận Hóa đều có ông phò tá bên cạnh.

Khi mất, ông được thờ tại Nguyên Miếu ở Gia miêu Ngoại trang. Đến năm Giáp Thìn (1844) vua Thiệu Trị truy tặng là “Khai Quốc Công Thần Đặc Tiến Tướng Võ Trấn Quân Trung Quân Đô Thống Phủ Chưởng Phủ Sự Thái Sư”, thụy là Trung Trinh, tước là Uy Quốc Công và cho thờ tại Hữu Vu của Thái Miếu.

Người con trưởng của ông là Nguyễn Đình Dũng theo ông vào nam làm quan đến chức Thái Bảo Quận Công.

Ghi chú:

 (*) Đại Nam thực lục tiền biên - Quyển I ghi về Ngài Nguyễn Hoàng như sau:
Cha là Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế, húy [Kim], con trưởng Trừng quốc công, đầu làm quan triều Lê, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, [tước]  An Thanh hầu.
Trong
Nguyễn Phước Tộc Thế Phả ghi về Ngài Nguyễn Cam: Ban ấn thụ làm quan coi lính. Đời Lê Chiêu Tông (1516-1524) ngài giữ chức Tả vệ Điện tiền Tướng quân, tước An Tĩnh Hầu, trông coi tỉnh Thanh Hoa.

(**) Chữ đọc là Thanh. Trong nhiều tài liệu ghi là An “Thành” Hầu.

(***) Đại Nam thực lục tiền biên - Quyển I ghi:

Ngày Tân tỵ, tháng 5, mùa hạ, năm ất tỵ [1545] ông bị hàng tướng Mạc [tên Trung] đầu độc. Triệu Tổ băng, thọ 78 tuổi. (Trước là nhà Mạc thấy quân nhà vua hoạt động mạnh, rất lo, ngầm sai hoạn quan là Trung (không rõ họ) trá hàng, để đầu độc vua Lê; việc không thành, nó liền ngầm cho thuốc độc vào quả dưa hấu rồi đón dâng Triệu Tổ). Vua Lê thương tiếc mãi, tặng tước Chiêu huân tĩnh công, dùng lễ hậu đem táng ở núi  Thiên Tôn (thuộc huyện Tống Sơn).

(1) Theo phát âm của Khang Hy tự điển chữ  phải đọc là Cam. Từ trước đến nay quen đọc là Kim, nay sửa lại cho đúng.

 (2) Trải qua nhiều biến cố, Long vị của đức Triệu Tổ và Hoàng Hậu bị dẹp cất ở điện Long Đức. Lễ cung nghinh Long vị đức Triệu Tổ trở về Triệu Miếu được con cháu Nguyễn Phúc Tộc cử hành trọng thể vào ngày 20 tháng 5 năm Kỷ Tỵ (22 - 6 - 1989).

(3) Llà em của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Hậu, nhưng Thái Phó Nguyễn Ư Kỷ được ghi tên vào Tôn phả, chứng tỏ công lao của Uy Quốc Công to lớn biết ngần nào.

Chữ Kỷ , gần giống chữ Dĩ , nên có nhiều tài liệu ghi ông tên là Nguyễn Ư Dĩ.