Tiểu sử của Ngài Nguyễn Phúc Tần 阮 福 瀕

Ngài

Nguyễn Phúc Tần 阮 福 瀕
Chúa Hiền

Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế



Ngài sanh năm 1620, mất năm 1687.

Lăng Đức Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế (Trường Hưng), ở làng Hải Cát, Huyện Hương Trà, tỉng Thừa Thiên. Lăng của Đức Bà (Vĩnh Hưng) ở làng An Ninh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên. Ngài còn lại một Bà thứ hai nữa, táng tại lăng Quang Hưng ở làng Định Môn, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.

Ngài và hai Bà đều thờ tại Thái Miếu, Tả Nhị Án.

Hệ Năm hiện có 3 phòng, nam 300 người. Ba nhà thờ: nhà thờ Ngài Phước Quận Côngở làng La Ỷ, tổng Dương Nổ; nhà thờ Ngài Cương Quận Công ở làng Lại Thế, tổng Ngọc Anh; Hai nhà thờ này đều ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên; nhà thờ Ngài Quốc Oai Công ở làng Vân Thê, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.

(Trích Hoàng Tộc Lược Biên)

Công Tử trưởng của Chúa Thượng mất sớm, nên Công Tử thứ 2 là Nguyễn Phúc Tần được lên nối nghiệp Chúa.

Dưới đời Chúa Thượng, Công Tử Nguyễn Phúc Tần đã đánh thắng lực lượng hải thuyền của Hà Lan năm 1644.

Khi kế nghiệp Chúa, Ngài tỏ ra là một người giỏi binh thơ đồ trận, khôn ngoan trong việc trị dân, tánh tình lại bao dung, nên dân chúng thương mến, thường gọi Ngài là Hiền Vương hay Chúa Hiền.

Thời Ngài đã đương đầu nhiều cuộc chiến oanh liệt với họ Trịnh. Ngài đã chiếm đến địa hạt Nghệ An rồi bỏ về. Cuộc chiến năm 1627 đem đến ngừng chiến Nam - Bắc.

Năm 1653, Ngài đã mở rộng bờ cõi đến tả ngạn sông Phan Rang, xứ Đàng Trong có thêm một vùng đất rộng lớn gồm tỉnh Khánh Hoà và một phần đất tỉnh Ninh Thuận. Mở rộng đất đai đến đâu, Chúa đặt quan cai tri đến đó và đưa dân ở Thuận Quảng vào khai khẩn làm ăn, nhờ vậy cả một vùng đất rộng lớn trở nên trù phú.

Chúa Hiền sáng lập Hệ Năm Tiền Biên, có 6 Công Tử và 3 Công Nữ.

(Trích Nguyễn Phước Tộc thế phả)

ĐỨC THÁI TÔNG HIẾU TRIẾT HOÀNG ĐẾ

Húy NGUYỄN PHÚC TẦN

(CHÚA THƯỢNG)

(1620 - 1687)

5.1. - THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

         Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế húy là Nguyễn Phúc Tần, con thứ hai của đức Thần Tông Nguyễn Phúc Lan và Hoàng Hậu họ Đoàn (không rõ tên). Ngài sinh ngày 19 tháng 6 năm Canh thân (18-7-1620).

         Lúc làm Thế tử, ngài được phong là Thái phó Dũng Lễ Hầu. Ngài là một võ tướng có tài. Năm Giáp thân (1644) ngài đốc suất các chiến thuyền vây đánh ba chiếc tàu của người Hà Lan tại cửa Eo làm thuyền trưởng phải tự tử, hai chiếc bỏ chạy, một chiếc bị va vào đá ngầm chìm, đức Thần Tông mừng và khen rằng: "Trước kia Tiên quân ta đã từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế, ta không lo gì nữa".

        Năm Mậu tý (1648) quân Trịnh vào xâm lấn, ngài được cử làm đại tướng thống suất đại binh cự dịch. Ngài sai Nguyễn Hữu Tấn đêm hơn 100 thớt voi, ban đêm xông vào đánh úp dinh địch làm quân Trịnh sợ hãi, bỏ chạy tán loạn. Ngài đem binh đuổi địch đến sông Gianh mới trở về.

        Năm Mậu tý (1648), đức Thần Tông mất, ngài nối ngôi, quần thần tôn ngài làm "Tiết Chế Thủy Bộ Chư Dinh kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo sũng Quận Công". Lúc này ngài 29 tuổi, người ta thường gọi ngài là Chúa Hiền Vương (Chúa Hiền).

        Ngài là người vũ dũng, am hiểu binh pháp, giỏi chiến trận. Khi lên kế nghiệp, ngài chăm lo xây dựng đất nước, mở mang bờ cõi, không nghĩ đến chuyện vui chơi. Ngài cho nạp vào cung một kỹ nữ người Nghệ An tên Đào Thừa, nhan sắc xinh đẹp, ngài rất yêu mến. Một hôm đọc sách xưa thấy việc Ngô Vương yêu mến nàng Tây Thi, ngài tỉnh ngộ rồi mật sai Nguyễn Phúc Kiều trừ bỏ Đào Thừa để khỏi di lụy về sau.

        Năm Giáp ngọ (1654) Nguyễn Phúc Trung, chú của ngài, bị Tống thị quyến rũ, xúi giục âm mưu làm loạn để đoạt ngôi Chúa. Việc phát giác, ông Trung bị bắt. Ngài không nở giết cho giam vào ngục. Tống thị bị tử hình, gia tài bị tịch thu đem cấp phát cho quân, dân. Sổ ghi tên những người theo phe phản nghịch tìm thấy được, ngài cho đốt đi không xét tới.

        Năm Ất mùi (1655), thuộc tướng của Trịnh Đào là Phạm Tất Đồng đem quân vượt sông Gianh xâm lấn Nam Bố Chính. Từ đó, ngài quyết định chuẩn bị công việc đánh phương Bắc. Ngài thường băn khoăn, mong tìm các bậc hiền tài để thác công việc biên cương. Mộ hôm mộng thấy thần nhân đưa cho bài thơ:

"Tiên kết nhân tâm thuận

Hậu thi đức hóa chiêu

Chi diệp kham tồi lạc

Căn bàn dã nan diêu"

tạm dịch là:

"Trước hết lòng người thuận

Sau thi đức hóa hay

Cành lá tuy rơi rụng

Cội gốc thật khó lay."

        Ngài cho rằng thơ có chữ thuận và chữ chiêu là ứng vào Thuận Nghĩa Hầu Nguyễn Hữu Tấn và Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật nên phàm việc binh đều bàn mưu với hai người ấy.

        Năm Ất mùì (1655) ngài phong Nguyễn Hữu Tấn làm Tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm Đốc chiến vượt qua sông Linh Giang (sông Gianh) đánh đất Bắc Bố Chinh, chiếm được Hà Trung Chúa trịnh sai Trịnh Trượng làm Thống lĩnh, kinh lược đất Nghệ An, đem quân chống giữ. Quân Trịnh bị thua trận Lạc Xuyên phải rút về An Tràng để mất bảy huyện phía Nam Nghệ An. Quân Trịnh nhiều lần vào đánh miền Nam, nhân có sự bất hòa giữa Nguyễn Hữu Tấn và Nguyễn Hữu Dật, quân Trịnh chiếm lại được 7 huyện đã mất.

        Năm Tân sửu (1661) Trịnh Tạc cử đại binh và đem vua Lê vào đánh miền Nam. Quan Trấn thủ Nam Bố chính là Nguyễn Hữu Dật chia quân ra đắp lũy, giữ vững mọi nơi, quân Trịnh đánh mãi mấy tháng không được lại phải rút về.

        Năm Nhâm tý (1672) Trịnh Tạc lại đem 10 vạn quân và rước vua Gia Tông vào Bắc Bố Chính đề đánh họ Nguyễn. Ngài cử Hoàng từ thứ tư là Hiệp Đức Hầu Nguyễn Phúc Thuần làm Nguyên súy cầm quân chống giữ. Ngài thân chính đốc suất đại quân thủy bộ tiếp ứng. Thủy quân được lệnh đóng giữ tất cả các cửa biển.

        Quân Trịnh đem toàn lực tiến đánh lũy Trấn Ninh rất hăng, đã hai ba phen sắp phá được lũy. May nhờ Nguyên súy Nguyễn Phúc Thuần và Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật cương quyết chống giữ. Hai phe đều bị thiệt hại lớn. Quân Trịnh đánh mãi không được phải lui về Bắc Bố Chính. Lúc này trời rét lại nghe tin Thủy quân Nguyên súy Trịnh Căn bị bệnh nặng, Trịnh Tác bèn sai Lê Hiến ở lại trấn thủ Nghệ An, Lê Sĩ Triệt đóng ở Hà Trung để giữ các yếu lộ, rồi rút quân về Thăng Long.

        Sau trận này, hai bên thôi việc chiến tranh, lấy sông Linh Giang 9tức là sông Gianh) làm ranh giới hai miền.

        Về mặt phía nam , năm Quý tỵ (1653) vua Chiêm Thành là Bà Tấm xâm phạm tỉnh Phú Yên. Ngài sai Hùng Lộc và Minh Vũ lãnh 3 ngàn quân đi đánh. Quân ta đại thắng, đuổi quân Chiêm đến tận sông Phan Rang. Bà Tấm dâng lễ vật và thư xin hàng. Ngài y cho, lấy sông Phan Rang làm ranh giới. Từ phía đông đến địa đầu Phú Yên chia làm hai phủ là Thái Khang (nay là Ninh Hòa) và Diên Ninh (nay là Diên Khánh). Vua chiêm phải giữ lệ cống như cũ. Như vậy, đến năm này dân tộc Việt đã tiến nhanh về phía Nam từ Tuy Hòa đến Phan Rang dài hơn 170 km.

        Từ năm Mậu tuất (1658) vua Chân Lạp đã nhận làm phiên thần của Chúa Nguyễn, hàng năm nạp cống. Năm Giáp dần (1674) có Nặc Ông Đài ở nước Chân Lạp đi cầu viện nước Tiêm La để đánh Nặc Ông Nộn. Nặc Ông Nộn chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang,  ngài sai Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm đem binh sang đánh. Quân ta vây thành Nam Vang, Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy, con ông là Nặc Ông Thu ra hàng. Ngài cho Nặc Ông Thu (dòng trưởng) làm Chánh Quốc Vương, đóng đô ở Long Úc và Nặc Ông Nộn làm đệ nhị Quốc Vương dóng ờ Sài Côn, bắt hằng năm phải triều cống.

        Năm Kỷ mùi (1679) có Tổng binh Dương Ngạn Địch và Tổng binh Trần Thượng Xuyên, người Trung Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh, đem hơn ba ngàn người và 50 chiến thuyền vào Nam xin nhập cư. Ngài vỗ về an ủi và cho vào trấn đóng tại Đông Phố (tức Gia Định) ngài ban cho chức tước, cấp phương tiện cày cấy để mở mang đất đai. Dương Ngạn Địch vào khai khẩn vùng Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên vao khai khẩn vùng Biên Hòa. Chẳng bao lâu Đông Phố trở thành miền đất trù phú, thương thuyền ngoại quốc đến buôn bán tấp nập.

        Từ khi thôi chiến tranh với họ Trịnh, ngài lo sửa sang chính trị, định lại phép thi cử để chọn nhân tài, đào thêm kênh ngòi để thêm phương, quân đội được thao diễn luyện tập thường xuyên. Quan trọng nhất là kế hoạch khai hoang, lập ấp: sau chiến thắng năm Mậu tý (1648) và các chiến thắng về sau, ngài phân tán số tù binh và những người hưởng ứng theo vào Nam, cho các nơi cứ 50 người làm một ấp, cấp cho lương ăn nửa năm. Ngài lại ra lệnh cho các nhả giàu đem tiền cho dân khẩn khoang vay. Kết quả là từ Điện Bàn (Quảng Nam) đến Phú Yên làng mạc liền nhau, ruộng đất trù phú, dân cư ngày càng đông. Dưới thời ngài, dân miền Nam sống được một thời gian cảnh trí đẹp đẽ, ngài cho dựng chùa Hoa Vinh ở núi Túy Vân (nay gọi là chùa Túy Vân), đây là ngôi chùa cổ nổi tiếng xinh đẹp ở đất thần kinh.

        Ngày 19 tháng 3 năm Đinh mão (30-4-1687), ngài không được khỏe, cho triệu Hoàng tử thứ hai là Hoàng Ân Hầu Nguyễn Phúc Thái đến bảo rằng: "Ta bình sinh ra vào gian hiểm để giữ nhà, giữ nước. Con nối ngôi phải sửa thêm nhân chính cho yên bờ cõi. Các quan văn võ đều do ta cất dùng để mưu mọi việc, đừng để cho bọn tiểu nhân len vào". Ngài lại triệu các đại thần đến bảo rằng: "Ta với các khanh một chí hướng với nhau mà còn việc mưu đồ chưa trọn. Nay con ta tuổi còn nhỏ, mong nhờ các khanh giúp đỡ cho công nghiệp của tổ tông được rõ ràng. Đừng quên lời ấy."

        Nói xong ngài băng. Ngài ở ngôi 39 năm, thọ 68 tuổi.

* * *

        Đức Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế là vị Chúa Nguyễn thứ tư trị vì ở miền Nam.

        Ngài là người trí dũng, cương nghị, am hiểu binh pháp, có các đức tính của một cị minh quân và biết chăm lo việc nước. Trong suốt thời gian tại vị ngài đả thực hiện nhiều công cuộc quan trọng;

·         Ngài là người đầu tiên đánh thắng các tàu chiến của người Tây phương
·
         Chấm dứt được cuộc phân tranh Nam Bắc kéo dài suốt 45 năm. 
·
         Mở rộng bờ cõi ở phía Nam, lập ra hai phủ Thái Khang và Diên Ninh. 
·
         Mở đường cho các vị kế nghiệp tiến vào đất Chân Lạp. 
·
         Đào nhiều kênh ngòi để thêm phương tiện cho giao thông và thương mãi.

·         Thực hiện kế hoạch kahi hoang, lập ấp trên qui mô trông lớn.

.       Nhớ vậy mà miền Nam ngày càn phú cường, nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

        Ngài thuộc đời thứ năm họ Nguyễn Phúc, khai sáng ra hệ V hiện nay có 3 phòng:

        1. Phòng một tức là phòng Phúc Quốc Công.

        2. Phòng hai tức là phòng Cương Quận Công.

        3. Phòng tư là phòng Quốc Uy Công.

5.2. - LĂNG, MIẾU THỜ VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN

        Ngài mất, lăng táng tại Hải Cát (Hương Trà, Thừa Thiên). Tên lăng là Trường Hưng (1). Đến đời vua Gia Long, ngài được thờ tại  Thái Miếu, ở án thứ hai, phía tả.

        Thế tử lên ngôi dâng thụy hiệu là: "Đạì Nguyên Súy Tổng Quốc Chính Công Cao Đức Hậu Dũng Triết Vương".

        Đời Vũ Vương, ngài được truy tôn: "Nghị Tổ Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết Vương".

        Vua Gia Long truy tôn: "Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết Hoàng Đế". Miếu hiệu là Thái Tông.      

5.3 - GIA ĐÌNH

    5.3.1. Hậu và phi

       5.3.1.1 Châu Thị Viên, Chiêu Thánh Hoàng Hậu

        Bà húy là Châu Thị Viên, sinh năm Ất sửu (1625). Bà vào hầu đức Thái Tông trong thời kỳ tiểm để, được phong làn Chánh phu nhân.

        Bà tính linh mẫn, lúc 16 tuổi, nhân đên trăng đi hái dâu ở bãi sông, ngắm trăng mà hát, gặp lúc đức Thần Tông (còn là Thế tử, đi theo hầu đức Hy Tông vào tuần tra Quảng Nam) cũng thừa đêm trăng xuống thuyền đi câu các, nghe hát rằng: "Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng, Thiếp thương phận thiếp má hồn nắng mưa." Thế tử lấy làm lạ, sai người tìm hỏi, biết là con gái họ Đoàn, bèn cho hầu nơi tiềm để.

        Bà mất ngày 21 tháng 11 năm Giáp tý (26-12-1684) thọ 60 tuổi, được phong tặng là Tán Quốc Chinh Phu Nhân, táng ở làng An Ninh (Hương Thủy, Thừa Thiên). Đời Vũ Vương bà được truy tôn : "Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Phi", sau thêm hai chữ Trang Liệt. Vua Gia Long truy tôn : "Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu". Tên lăng là Vĩnh Hưng. Bà được phối thờ với đức Thái Tông ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả.

        Bà sinh được 2 trai và 1 gái: Nguyễn Phúc Diễn (tước Phúc Quốc Công), Nguyễn Phúc Thuần (tức Quốc Uy Công), Nguyễn Phúc Ngọc Tào.           

       5.3.1.2 Tống Thị Đôi, Huệ Thánh Hoàng Hậu

        Bà húy là Tống Thị Đôi, con ông Thíếu phó Quận công Tốn Phúc Khang, mẹ bà họ Phạm (không rõ tên). Tiểu sử không rõ, chỉ biết bà quê ở huyện Tống sơn , tỉnh Thanh Hóa.

        Bà tính hiền hậu, lúc mới vào cung với thứ bậc là Cơ, sau ngày càng được ân sủng được phong làm thứ phi.

        Bà mất ngày 21 tháng 3 am lịch, không rõ năm mất, táng tại làng Đình Môn (Hương Trà, Thừa Thiên). Đời Vũ Vương bà được truy tôn : "Từ Tiên Huệ Thánh Tĩnh Phi", sau thêm hai chữ Trinh Thuận. Vua Gia Long truy tôn : "Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng Hậu", đặt tên lăng là Quang Hưng. Bà được phối thờ với đức Thái Tông ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả.

        Bà sinh ra đức Anh Tông Nguyễn Phúc Thái và Cương Quận Công Nguyễn Phúc Trân.

               5.3.2. Hoàng tử và Hoàng nữ

Đức Thái Tông có 6 Hoàng tử và 3 Hoàng nữ

              Hoàng tử

        Hoàng nữ

 

 

1. Nguyễn Phúc Diễn

1. Nguyễn Phúc Ngọc Tảo

2. Nguyễn Phúc Thái

2. Khuyết danh

3. Nguyễn Phúc Trân

3. Khuyết danh

4. Nguyễn Phúc Thuần

 

5. Nguyễn Phúc Niên

 

6. Nguyễn Phúc Nhiễu

 

              5.3.3  Anh chị em

Ngài có 2 anh em trai và 1 chị em gái                           

                   5.3.3.1A. Nguyễn Phúc Vũ

                    Ông húy là Nguyễn Phúc Vũ, con trưởng của đức Thần Tông, mất sớm.

                    Không có con.

                   5.3.3.4A. Nguyễn Phúc Quỳnh

                    Ông húy là Nguyễn Phúc Quỳnh, con thứ ba của đức Thái Tông.

                    Không có con.

                   5.3.3.1A. Khuyết danh                                   

                    Bà là con gái của đức Thái Tông. Bà hạ giá lấy ông Chưởng cơ tên Minh.

                   (1) Lăng Trường Hưng đã được con cháu hệ V trùng tu vào năm Giáp tuất (1994).